giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ thể thấp còi ở trường Mầm non Điền Trung huyện Bá Thước sinh, cho trẻ ăn dặm vào tháng thứ 5 và tiếp tục bú mẹ cho đến 2 tuổi Chúng tôi đã giúp các bậc phụ huynh nhận thấy rằng sữa mẹ là chất dinh Các biện pháp ngăn ngừa suy dinh dưỡng. Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh và kéo dài từ 18 - 24 tháng, nếu mẹ không đủ sữa cần có nguồn sữa phù hợp để thay thế cho trẻ. Có chế độ dinh dưỡng hợp lý để trẻ tăng cân khỏe mạnh: Cho trẻ ăn dặm khi được 6 tháng tuổi, ăn Vòng do kiểm tra suy dinh dưỡng độ 1 cho trẻ. Ảnh Internet. Khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng, chất đạm và các vi lượng chất khác cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, sẽ gây nên tình trạng suy dinh dưỡng, và hay gặp nhất là ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Trẻ suy dinh dưỡng thiếu chất trong những năm đầu có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và trí tuệ của bé sau này. mẹ nên cho bé vận động phù hợp lứa tuổi, tắm nắng 15 - 30 phút mỗi ngày vào buổi sáng (8:30-9:00), ngủ đủ giấc và ngủ sớm trước 22 giờ Chỉ số bmi theo tuổi của người trưởng thành. Như bạn có thể thấy ở bảng trên, với những người gầy độ 1 sẽ có chỉ số BMI nằm trong khoảng từ 17-18,49.Gầy độ 2 nếu ở mức 16-16,99. Nguy hiểm nhất là người gầy độ 3 với BMI dưới 16. Việc thiếu các chất dinh dưỡng như protein, chất béo, vitamin và . xơ gan Phù do suy dinh dưỡng – Chủ yếu phù chi dưới, có khi phù toàn thân. – Phù mềm và ấn lõm. – Không liên quan đến thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh. – Giảm protein huyết thanh, giảm mỡ máu. – Không có protein niệu. – Nguyên nhân Ăn thiếu protein kéo dài, hội chứng kém hấp thu, bệnh đường ruột gây mất protein, các nhiễm khuẩn mạn tính lao, các bệnh ác tính ung thư, nhất là ung thư ống tiêu hoá. Phù do suy tim – Đặc điểm  Chủ yếu phù chi dưới, phù mềm, ấn lõm.  Hay xuất hiện về chiều, sau khi người bệnh đứng lâu, và nhẹ bớt lúc sáng sớm khi người bệnh ngủ dậy, giai đoạn muộn phù sẽ thường xuyên và toàn thân.  Nghỉ ngơi, chế độ ăn nhạt có thể làm bớt phù.  Có thể cổ trướng và tràn dịch màng phổi.  Giai đoạn đầu khó thở nhẹ, khi gắng sức; giai đoạn muộn có khó thở thườn xuyên  Khám thấy tim to, nhịp ngựa phi…  Gan to, mềm, có thể có tính chất gan đàn xếp, tĩnh mạch cổ nổi, phản hồi gan tĩnh mạch cổ +.  Có thể phát hiện bệnh lý tim mạch dẫn đến suy tim Hẹp van hai lá, tăng huyết áp…  Protein mức độ nhẹ. – Cơ chế phù trong suy tim Có nhiều cơ chế phối hợp.  Tăng tích tụ máu tại tim và tĩnh mạch à tăng áp suất thuỷ tĩnh trong tĩnh mạch + mao mạch toàn thân à phù.  Giảm thể tích máu động mạch hiệu quả là kích hoạt hệ giao cảm gây co mạch thận, kích hoạt hệ RAA à ứ natri và nước à phù tăng.  Tăng nồng độ aldosteron do tăng tiết và kéo dài thời gian bán huỷ.  Tăng áp lực TM toàn thân à tăng áp lực trong ống ngực à giảm dẫn lưu bạch huyết à phù tăng.  Tăng Endothelin à co mạch thận, ứ natri .  Tăng Arginin-Vasopressin à tăng giữ nước, tăng tác dụng co mạch của Angiotensin II.  Tăng ANP và BNP nhưng không đủ ngăn phù + tăng đề kháng tác dụng của ANP và BNP. Phù do xơ gan phù do xơ gan – Đặc điểm  Phù chủ yếu hai chi dưới, phù trắng, mềm và ấn lõm.  Thường kèm cổ trướng.  Tuần hoàn bàng hệ cửa – chủ.  Triệu chứng khác của xơ gan Vàng da, sao mạch, lách to, giãn tĩnh mạch thực quản…  Áp suất TM cảnh bình thường/thấp.  Không có protein ở nước tiểu.  Có thể phát hiện nguyên nhân dẫn đến xơ gan Nghiện rượu, viêm gan virus B, viêm gan virus C… – Cơ chế Có nhiều cơ chế phối hợp.  Tăng áp lực TM cửa à tăng thể tích máu nội tạng, tăng tạo bạch huyết + ứ natri ở gan, giảm thể tích máu động mạch hiệu quả.  Giảm albumin huyết thanh + giảm thể tích máu ĐM hiệu quả à kích thích hệ RAA, các dây thần kinh giao cảm ở thận và các cơ chế giữ muối và nước khác.  Nồng độ aldosteron máu tăng do gan mất/giảm khả năng chuyển hoá.  Tăng sản xuất prostaglandin PGE2 và PGI2 à giảm ứ natri tại thận à chống chỉ định dùng NSAIDs.  Cổ trướng do tăng áp lực TM cửa + nghẽn bạch mạch tại gan + giảm albumin máu.  Phù ngoại vi xuất hiện do giảm albumin máu nặng.  Cổ trướng to à tăng áp suất trong ổ bụng à cản trở dòng máu chảy về từ chi dưới tăng phù ở chi dưới. copy ghi nguồn Link bài viết tại Phân biệt hiện tượng phù so suy dinh dưỡng suy tim và xơ gan >PHÙ, NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ, CÁCH KHÁM PHÙ Phù là gì? Phù được định nghĩa là hiện tượng ứ nước ở khoang gian bào. Dịch phù chủ yếu tích ở tổ chức liên kết dưới da, nơi có tổ chức lỏng lẻo và áp lực tổ chức thấp. Nếu phù nặng thì dịch phù có cả ở các khoang rỗng của cơ thể. Như khoang phúc mạc tràn dịch màng bụng, khoang màng phổi tràn dịch màng phổi, khoang màng tinh hoàn tràn dịch màng tinh thoàn. Ngoài ra còn có phù phổi cấp dịch phù tràn vào các phế nang, phù não… Nếu căn cứ vào tính chất phù người ta chia ra hai loại phù là phù mềm và phù cứng. Phù mềm là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da để lại một vết lõm lâu phẳng sau khi ngừng ấn. Xung quanh vết lõm gờ lên làm vết lõm giống như chiếc nghiên mài mực nho, nên gọi là dấu hiệu lõm lọ mực. Phù mềm là do nước bị ứ lại ở dạng tự do trong khoang gian bào. Đây là loại phù hay gặp trong lâm sàng. Phù cứng là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da, không để lại vết lõm sau khi ngừng ấn. Phù cứng là do lượng nước ứ lại ở khoang gian bào không ở dạng tự do. Mà ở dạng liên kết với các thành phần của mô như liên kết với acid hyaluronic của tổ chức liên kết. Phù cứng gặp trong một số bệnh lý như phù do dị ứng, phù do nhược năng tuyến giáp phù niêm. Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới phù mềm là loại phù hay gặp trong lâm sàng. + Nhìn sẽ thấy mi mắt mọng, mất các nếp gấp mi. Da vùng bị phù căng bóng, không còn nếp nhăn. Các chỗ bình thường có các hõm như hõm sau và trước mắt cá chân sẽ đầy và mất đi các hõm này. Bệnh nhân có cảm giác nặng nề ở nơi phù. + Khám ngoài da. Dùng ngón tay ấn vào các vùng da trên nền xương như. mặt trước trong xương chày, mắt cá chân, vùng cột sống thắt lưng, vùng xương cùng, vùng trán… Sau khi nhấc ngón tay ra sẽ để lại một vết lõm có bờ hơi gờ cao do nước bị dồn ra xung quanh tạo nên. Vết lõm lâu mới đầy trở lại. + Tốt nhất là theo dõi cân nặng của bệnh nhân. Theo dõi cân nặng vừa biết được lượng nước bị ứ lại vừa đánh giá được tiến triển của phù. Nếu trong 1 vài ngày thấy bệnh nhân tăng 1-2kg cân cùng thời điểm trong ngày, lúc đói kèm thêm các triệu chứng nghi ngờ phù thì cần đưa bệnh nhân đi khám để xác định có phù hay không và tìm nguyên nhân gây phù để điều trị. + Nếu phù toàn thân nặng cần khám xem có tràn dịch màng phổi không. Phát hiện bằng dấu hiệu 3 giảm ở đáy phổi, chụp X-quang phổi để phát hiện. Khám xác định có tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng tinh hoàn không. Nguyên nhân gây phù Phù toàn thân gặp trong các bệnh. bệnh thận viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư. suy thận cấp, suy thận mạn. bệnh tê phù thể ướt do thiếu vitamin B1. suy dinh dưỡng. nhiễm độc thai nghén. Phù khu trú phù ở ngực và hai tay phù áo khoác gặp trong hội chứng trung thất. Do tĩnh mạch chủ trên bị chèn ép. Phù hai chi dưới do suy tim phải hay suy tim toàn bộ. phù do xơ gan. phù trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén do tĩnh mạch chủ dưới bị thai chèn ép. Phù một chi thường phù một chi dưới do viêm tắc tĩnh mạch sâu, viêm mạch bạch huyết. Đặc điểm phù do các nguyên nhân khác nhau Căn cứ vào đặc điểm khác nhau của triệu chứng phù, người ta có thể sơ bộ dự đoán được nguyên nhân gây ra phù. + Nguyên nhân gây phù do các bệnh thận thì có đặc điểm – Ban đầu xuất hiện ở hai mi mắt. Sáng ngủ dậy thấy hai mi mắt mọng. Sau một vài ngày phù xuất hiện toàn thân. Dùng ngón tay ấn vùng da trước trong xương chày, mắt cá chân thấy để lại vết lõm lâu đầy. Da vùng phù căng bóng, mất các nếp nhăn. Các chỗ lõm tự nhiên trở nên đầy như lõm mặt sau, mặt trước mắt cá chân. Những vùng ở thấp thường phù nhiều như hai chân, vùng thắt lưng nếu bệnh nhân nằm ngửa nhiều. Nếu phù nặng hội chứng thận hư bệnh nhân có thể tăng 5-10kg so với khi chưa phù. Có thể có tràn dịch màng phổi. tràn dịch màng bụng bụng to bè, rốn đầy, gõ đục vùng thấp, dấu hiệu sóng vỗ dương tính. tràn dịch màng tinh hoàn bìu to, da bìu căng mọng, sờ thấy tinh hoàn bình thường bên trong. – Phù tăng về buổi sáng sau khi ngủ dậy, giảm về chiều. – Ăn mặn thì phù tăng nhanh, ăn nhạt thì phù giảm. – Bệnh nhân đi tiểu ít. – Có thể đau âm ỉ hai hố thắt lưng. – Xét nghiệm nước tiểu có protein niệu, hồng cầu niệu, trụ hình niệu. + Nguyên nhân gây phù do suy tim có đặc điểm. – Phù hai chi dưới. – Phù tăng về chiều và giảm về sáng sau ngủ dậy, được nghỉ ngơi thì phù giảm. – Bệnh nhân mệt, khó thở tăng khi vận động, giảm khi được nghỉ ngơi. Tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phản hồi gan-tĩnh mạch cổ dương tính. – Khám tim phát hiện các bệnh lý thực thể của tim như bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh mạch vành. + Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng có đặc điểm. Bệnh nhân thiếu ăn lâu ngày, gầy, cơ teo, phù toàn thân nhưng nặng hơn ở hai chi dưới. Xét nghiệm protein máu và albumin máu giảm nặng. + Tê phù thể ướt Nguyên nhân gây phù do thiếu vitamin B1. Bệnh nhân ăn gạo ẩm mốc, gạo dự trữ lâu ngày, phù hai chi dưới. Tê bì và mất cảm giác hai chi dưới. Giảm hoặc mất phản xạ gân xương chi dưới do tổn thương thần kinh ngoại vi. Có thể có tim to, suy tim, nhịp tim nhanh. + Nguyên nhân gây phù do nhiễm độc thai nghén. Thường xuất hiện ở người có thai 3 tháng cuối, con so, phù toàn thân kèm tăng huyết áp, protein niệu dương tính, acid uric máu tăng. Cần phát hiện sớm và điều trị tích cực đề phòng sản giật. Cách khám một người bệnh phù. Sự ứ nước trong tổ chức dưới da thường làm cho. Những bệnh có cảm giác nặng nề. Những vùng bị sưng phù to, căng mọng, làm che lấp các chỗ lồi lõm bình thường mắt cá, nếp răn, đầu xương. Màu da vùng đó nhợt nhạt. Trong trường hợp kín đáo. Sự ứ nước có thể chưa nhiều để biểu hiện thành những triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Nhưng thường đủ để làm thay đổi cân nặng của người bệnh một cách nhanh chóng. Cho nên những trường hợp kín đáo, cần phải cân người bệnh hằng ngày. tăng lên 1 -2,5kg trong vài ngày chỉ nó để giải thích được bằng hiện tượng phù. Sau khi đã xác định được phù, muốn tìm nguyên nhân gây phù cần phải Nhận định kỹ tính chất phù. Phát hiện các triệu chứng kèm theo. Nhận định tính chất phù. Mức độ nhiều hay ít và tiến triển hình nhanh hay chậm Tốt nhất nên theo dõi cân nặng để được chính xác và cụ thể. Vị trí Phù toàn thân hay khu trú một vùng và xuất hiện đầu tiên ở đâu? Ấn lõm hay không? Sự liên quan với thời gian buổi sáng ngủ dậy thì không thấy phù, mà chỉ xuất hiện về chiều, phù do suy tim ở thời kỳ đầu hoặc với tư thế người bệnh phù xuất hiện khi đứng lâu phù tim trong thời kỳ đầu, phù tĩnh mạch. Tác dụng của chế độ ăn nhạt thường khá rõ rệt trong phù do suy tim, do xơ gan và nhất là trong phù do viêm cầu thận cấp. Phát hiện các triệu chứng kèm theo phù Phản ứng mức độ nước Tình trạng các màng phổi màng bụng Thường có tràn dịch trong các trường hợp phù to, nước dịch có thể trong hoặc hơi vàng chanh nhưng bao giờ cũng có ít protein và Rivalta - vì là dịch thấm. Số lượng nước tiểu thải tiết trong 24 giờ nói chung tất cả các trường hợp phù trừ phù do viêm tĩnh mạch và phù do bệnh bạch mạch đều làm cho người bệnh đái ít. Mức độ giảm số lượng nước tiểu thường tỷ lệ với tình trạng phù, phù càng nhiều, người bệnh càng đái ít. Phù trên hệ tuần hoàn có chỉ điểm Tuần hoàn bàng hệ Ở ngực chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ tỉnh mạch chủ trên, thường có trong hội chứng trung thất; ở hạ sườn phải và thượng vị chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ thống cửa chủ, thường có trong phù xơ gan. ở bẹn và hạ vị chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ dưới, thường có trong các trường hợp tắc hoặc chèn ép các tĩnh mạch chi dưới. Xanh tím Ở môi, ở mặt, chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ trên hoặc tuần hoàn hoàn lớn, hoặc ở các chi tương ứng với tĩnh mạch có bệnh. Gan to mềm, tĩnh mạch cổ nổi, phản hồi gan tĩnh mạch cổ + Chỉ điểm cho phù do suy tim phải. Khó thở Nhiều hoặc ít, thường có trong phù do suy tim. Chỉ điểm cho một viêm nhiễm địa phương Tình trạng nóng, đỏ, đau ở vùng đó. Sưng các hạch tương ứng với vùng đó. Sốt nhiều hoặc ít. Chẩn đoán phù Chẩn đoán xác định Thường không khó khăn trong trường hợp rõ ràng và cả trong các trường hợp kín đáo căn cứ vào các biểu hiện hoặc các biện pháp đãn nêu ở trên. Những vấn đề chủ yếu và quan trọng trong chẩn đoán phù là tìm ra nguyên nhân. Nguyên nhân gây ra phù có thể do Ứ trệ tuần hoàn Suy tim. Chèn ép tĩnh mạch hoặc tắc tĩnh mạch. Hạ tỷ lệ protein ở huyết tương Làm thay đổi áp lực thẩm thấu, nước dễ thoát ra ngoài huyết quản, như phù trongThận nhiễm mỡ. Thiếu dinh dưỡng. Xơ gan. Ứ NaCl Ba yếu tố nói trên thường có thể kết hợp với nhau và đều là những yếu tố tiên phát. Nhưng dần dần, sau một thời gian, thường có thêm một yếu tố hậu phát, đó là Cường adosteron hậu phát Ví dụ trong suy tim, thận nhiễm mỡ, xơ gan. Yếu tố này thường củng cố thêm hiện tượng phù, làm cho việc điều trị thêm khó khăn. Ngoài 4 yếu tố thường chi phối một số lớn các trường hợp phù nói trên, còn có trường hợp nguyên nhân gây phù do Tổn thương các thành bạch mạch hoặc tĩnh mạch Đấy là các trường hợp phù do Viêm tĩnh mạch. Viêm hạch mạch. Dị ứng. Các biểu hiện phù trong nguyên nhân nói trên thường thể hiện dưới hai hình thái lâm sàng giúp cho ta hướng chẩn đoán nguyên nhân Phù toàn thân và Phù khu trú từng vùng. Chẩn đoán nguyên nhân gây phù 1. Nguyên nhân gây phù toàn thân Nghĩa là phù cả mặt, thân, chân tay và thường kèm thêm cả tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng. Nguyên nhân gây phù toàn thân thông thường nhất là các bệnh thận. Trong đó chủ yếu là Thận nhiễm mỡ. Viêm cầu thận cấp, bán cấp, hoặc kính. Tính chất chung của một phù thận là Bao giờ cũng xuất hiện đầu tiên của mi mắt, ở mặt, rồi mới đến các nơi khác. Không có liên quan với thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh dù sao nếu người bệnh phải nằm lâu, phù thường nhất ở vùng lưng, mặt sau đùi, tuy các vùng khác vẫn phù. Phù trắng, mềm, ấn lõm. Bao giờ ở nước tiểu cũng có protein; mức độ nhiều ít có thể khác nhau tùy theo loại bệnh thận. Ngoài những tính chất chung đó của phù thận, bệnh nhân nhiễm mỡ và viêm cầu thận có một số yếu tố khác nhau về lâm sàng và cận lâm sàng, mà chúng tôi trình bày trong bảng dưới đây để căn cứ vào đó, chúng ta có thễ phát hiện được. Ngoài nguyên nhân gây phù thông thường nhất nói trên, phù toàn thân còn có thể gặp trong Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng Chủ yếu phù chi dưới, nhưng cũng có khi phù cả mặt, thân và tay. Cũng không có liên quan đến thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh. Cũng mềm và ấn lõm. Nhưng không bao giờ có protein ở nước tiểu, xác định bằng protein máu giảm. Phát hiện được bệnh tiên phát gây suy dinh dưỡng, thông thường nhất là các bệnh đường ruột mạn tính, các nhiễm khuẩn mạn tính lao hoặc các bệnh ác tính ung thư, nhất là ung thư ống tiêu hoá. Nguyên nhân gây phù do nội tiết Được đề cập đến những năm gần đây Phù có thể ở chi dưới và cả ở mặt, nhưng rất kín đáo Người bệnh cảm thấy mặt hơi nặng và ấn hơi lõm, phải theo dõi cẩn thận mới biết chắc là phù. Thường xảy ra ở phụ nữ và có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. 2. Nguyên nhân gây phù khu trú Phù ngực Phù “áo khoác”, triệu chứng cổ điển của triệu chứng trung thất. Phù hai chi dưới Nhiều bệnh có thể gây ra phù hai chi dưới. Nguyên nhân gây phù do suy tim phải Lúc đầu ít và kín đáo, chỉ có ở mắt cá chân; và chỉ xuất hiện về chiều, sau khi người bệnh đứnglâu, và mất đi lúc sáng sớm khi người bệnh ngủ dậy, về sau phù sẽ thường xuyên và rõ rệt. Chế độ nghĩ ngơi, chế độ ăn nhạt có thể làm bớt phù. Phù mềm, ấn lõm. Bao giờ cũng kèm theo gan to, mềm, tức, có tính chất gan đàn xếp, tĩnh mạch cổ nổi hoặc phản hồi gan tĩnh mạch cổ + và khó thở ít hoặc nhiều. Nếu suy tim phải kéo dài hoặc không hồi phục, có thể xuất hiện thêm cổ trướng thẩm thấu. Nguyên nhân gây phù do xơ gan Mức độ có thể nhiều họăc ít, ấn lõm. Ăn nhạt có thể bớt phù. Thường kèm theo cổn trướng thẩm thấu và tuần hoàn bàng hệ cửa – chủ bằng soi ổ bụng và sinh thiết gan, nếu nghi ngờ. Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng đã nói ở trên Phù do bệnh tê phù ướt bêribêri Chủ yếu ở bắp chân, làm bắp chân người bệnh căng, to. Có thể ấn lõm. Không có liên quan với thời gian, với tư thế người bệnh cũng như với chế độ ăn nhạt. Bao giờ cũng kèm theo rối loạn cảm giác chủ quan tê bí, kiến bò, chuột rút và mất phản xạ gân gối. Nguyên nhân gây phù do thai nghén Ở những sản phụ trong những tháng cuối của thời kỳ có thai. 3. Nguyên nhân gây phù một chi Thông thường nhất ở một chi dưới. Cần chú ý đến hai trường hợp Nguyên nhân gây phù một chi do viêm tắc tĩnh mạch phù tĩnh mạch Phù mềm, ấn không lõm, trắng nhưng rất đau đau tự phát lâu ngày làm người bệnh không dám cử động chân, đau càng tăng lên khi sờ nắn chi, nhất là đoạn chi gần chỗ viêm tắc. Nằm nghỉ và nhất là gác chân lên cao, sẽ làm giảm bớt kèm theo sốt và mạch nhanh, nhưng không tương xứng vì sốt ít. Nguyên nhân gây phù một chi do viêm mạch bạch huyết Lúc đầu cũng giống như phù trong phù tỉnh mạch. Mềm, ấn không lõm, trắng nhưng cũng rất đau nhưng không nổi rõ đường đi của mạch bạch huyết thành những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng với các mạch đó sưng to và đau. Về sau các tổn thương đã ổn định, các tổ chức dưới da và da trở nên rất dày và cứng đấy là” phù chân voi”, di chứng của viêm bạch mạch. Cần tìm nguyên nhân thông thường nhất ở nước ta là giun chỉ. Nguyên nhân gây phù một chi do dị ứng Thường xuất hiện đột ngột ở xung quanh mắt, mồm và thường mất đi rất nhanh. Nguyên nhân gây phù, phù hay gặp trong bệnh gì? Suy dinh dưỡng là tình trạng bao gồm thừa dinh dưỡng và thiếu dinh dưỡng. Những người thiếu dinh dưỡng có thể bị sụt cân, mệt mỏi, thay đổi tâm trạng hoặc bị thiếu hụt vitamin và khoáng chất. Mặt khác, thừa dinh dưỡng có thể dẫn đến thừa cân, béo phì và thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Cả hai loại đều có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu không được kiểm soát kịp thời. Suy dinh dưỡng là một tình trạng nghiêm trọng xảy ra khi chế độ ăn uống của bạn không có đủ chất dinh dưỡng, nói cách khác, đó là sự thiếu hụt hoặc tiêu thụ quá nhiều chất dinh loại suy dinh dưỡng bao gồmThiếu dinh dưỡng Undernutrition Loại suy dinh dưỡng này là kết quả của việc cơ thể không nhận đủ protein, calo hoặc vi chất dinh dưỡng thiết yếu. Nó dẫn đến các tình trạng cân nặng so với chiều cao thấp gầy còm, chiều cao thấp theo tuổi thấp còi và nhẹ cân so với tuổi nhẹ cân.Thừa dinh dưỡng Overnutrition Tiêu thụ quá nhiều một số chất dinh dưỡng, chẳng hạn như protein, calo hoặc chất béo cũng có thể dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng. Điều này thường dẫn đến thừa cân hoặc béo chung, những người thiếu dinh dưỡng thường có xu hướng thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là sắt, kẽm, vitamin A và i ốt. Tuy nhiên, tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng cũng có thể xảy ra khi bạn bị suy dinh với tình trạng thừa cân hoặc béo phì có thể xảy ra do cơ thể tiêu thụ quá nhiều calo nhưng không nhận đủ vitamin và khoáng chất cùng một lúc. Thực phẩm cũng là một yếu tố góp phần gây ra tình trạng thừa dinh dưỡng, chẳng hạn như các thực phẩm chiên rán và nhiều đường, có xu hướng chứa nhiều calo và chất béo nhưng lại ít các chất dinh dưỡng cần thiết khác. Suy dinh dưỡng là một tình trạng nghiêm trọng xảy ra khi chế độ ăn uống của bạn không có đủ chất dinh dưỡng 2. Dấu hiệu và triệu chứng của suy dinh dưỡng Các dấu hiệu và triệu chứng của suy dinh dưỡng sẽ tùy thuộc vào từng loại suy dinh dưỡng khác nhau. Việc phát hiện ra những ảnh hưởng của suy dinh dưỡng có thể giúp bạn sớm xác định được phương pháp điều trị phù hợp dành cho dinh dưỡngThường là kết quả của việc cơ thể không nhận đủ chất dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của bạn. Điều này có thể gây ra các vấn đề sauGiảm cânGiảm mỡ và khối lượng cơMá hóp và mắt trũngBụng sưng toTóc và da khôChậm lành vết thươngMệt mỏiKhó tập trungDễ cáu gắtTrầm cảm và lo âuNhững người thiếu dinh dưỡng có thể có một hoặc một số triệu chứng dinh dưỡng thể phù Kwashiorkor là tình trạng cơ thể thiếu protein trầm trọng, dẫn đến tích nước và làm phình bụng. Trong khi đó, suy dinh dưỡng thể teo đét marasmus xảy ra do cơ thể thiếu hụt calo nghiêm trọng, dẫn đến gầy, kèm theo sự mất đi một lượng đáng kể chất béo và cơ ra, thiếu dinh dưỡng cũng có thể dẫn đến thiếu vi chất dinh dưỡng. Một số sự thiếu hụt phổ biến nhất và các triệu chứng đi kèm của chúng thường bao gồmVitamin A Gây khô mắt, quáng gà và làm tăng nguy cơ nhiễm trùngSắt Làm suy giảm chức năng não, gây ra các vấn đề về điều hòa thân nhiệt và các vấn đề về dạ dàyKẽm Dẫn đến chán ăn, còi cọc, chậm lành vết thương, rụng tóc, hoặc tiêu chảyIốt Khiến tuyến giáp goiters bị mở rộng, giảm sản xuất hormone tuyến giáp, gây ra các vấn đề về tăng trưởng và phát triểnThực chất, thiếu dinh dưỡng có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về thể chất và sức khỏe của bạn, thậm chí nó còn làm tăng nguy cơ tử vong nếu không được kiểm soát kịp thời. Người ta đã ước tính rằng, tình trạng thấp còi, gầy còm, thiếu kẽm và vitamin A đã gây ra khoảng 45% tổng số ca tử vong ở trẻ em trong năm 2011 Thiếu dinh dưỡng có thể khiến bạn rơi vào trạng thái mệt mỏi, trầm cảm, lo âu Thừa dinh dưỡng bội dinh dưỡngCác dấu hiệu chính của thừa dinh dưỡng là tình trạng thừa cân và béo phì, nhưng nó cũng có thể dẫn đến sự thiếu hụt dinh cứu đã cho thấy, những người thừa cân hoặc béo phì có nhiều khả năng hấp thụ không đủ chất dinh dưỡng, đồng thời lượng vitamin và khoáng chất trong máu của họ cũng thấp hơn so với những người có cân nặng bình nghiên cứu khác được thực hiện ở những người có độ tuổi thanh thiếu niên cũng đã cho thấy, nồng độ vitamin A và E trong máu ở những người béo phì thấp hơn từ 2–10% so với những người tham gia có cân nặng bình này là do thừa cân và béo phì có thể là kết quả của việc tiêu thụ quá nhiều thức ăn nhanh và thực phẩm chế biến sẵn. Bởi chúng có chứa hàm lượng calo cao và nhiều chất béo nhưng lại rất ít chất dinh dưỡng thiết yếu khác cho cơ trong một cuộc nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, những người ăn thức ăn nhanh thường hấp thụ rất ít lượng vitamin A và C, trong khi đó lại tiêu thụ đáng kể một lượng lớn calo, chất béo và natri hơn so với những người kiêng các loại thực phẩm này. 3. Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng Các triệu chứng của suy dinh dưỡng sẽ được đánh giá thông qua các bài kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện hoặc phòng công cụ chính được sử dụng để xác định suy dinh dưỡng thường bao gồm biểu đồ giảm cân và chỉ số khối cơ thể BMI, xét nghiệm máu để biết tình trạng vi chất dinh dưỡng và khám sức khỏe tổng bạn có tiền sử giảm cân và có các triệu chứng khác liên quan đến tình trạng thiếu dinh dưỡng, bác sĩ có thể yêu cầu bạn thực hiện các xét nghiệm bổ sung để xác định tình trạng thiếu vi chất dinh khác, việc xác định sự thiếu hụt chất dinh dưỡng do thừa dinh dưỡng có thể gặp nhiều khó khăn hơn. Nếu bạn bị thừa cân hoặc béo phì, và chủ yếu ăn các thực phẩm chế biến sẵn và thức ăn nhanh, cơ thể bạn có thể sẽ không nhận đủ vitamin hoặc khoáng chất cần thiết. Để tìm hiểu xem bạn có đang bị thiếu hụt chất dinh dưỡng hay không, hãy trao đổi với bác sĩ về thói quen ăn uống hàng ngày của bạn. Các triệu chứng của suy dinh dưỡng sẽ được đánh giá thông qua các bài kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện hoặc phòng khám 4. Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào? Suy dinh dưỡng có thể dẫn đến sự phát triển của bệnh tật và các tình trạng sức khỏe mãn tính hưởng lâu dài của tình trạng thiếu dinh dưỡng thường bao gồm nguy cơ cao mắc béo phì, bệnh tim và bệnh tiểu đường. Trong một cuộc nghiên cứu ở một số trẻ vị thành niên đã cho thấy, những bé trai bị còi cọc do suy dinh dưỡng sớm trong cuộc đời sẽ tăng thêm 5% khối lượng chất béo trong vòng 3 năm so với các bạn không bị thấp còi. Ngoài ra, có khoảng 21% thanh thiếu niên thấp còi có tình trạng huyết áp cao hơn so với những thanh thiếu niên khỏe mạnh nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, tình trạng thiếu dinh dưỡng ở thời thơ ấu có thể gây ra những thay đổi trong quá trình trao đổi chất, dẫn đến nguy cơ cao mắc các bệnh mãn tính sau cạnh đó, trẻ em thừa cân hoặc béo phì cũng có nguy cơ mắc bệnh tim và bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn so với những trẻ khác. Cụ thể, qua một cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy, những trẻ em bị béo phì có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn gấp 4 lần so với những trẻ có chỉ số BMI bình thườngDo ảnh hưởng lâu dài của suy dinh dưỡng có thể làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính, vì vậy việc ngăn ngừa và điều trị suy dinh dưỡng sớm có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc các nguy cơ này. 5. Nguyên nhân nào dẫn đến suy dinh dưỡng? Suy dinh dưỡng là một vấn đề mang tính toàn cầu, có thể xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm điều kiện môi trường, kinh tế và y chức Y tế Thế giới WHO đã ước tính rằng có hơn 460 triệu người lớn và 150 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng, trong khi đó có hơn hai tỷ người lớn và trẻ em bị thừa cân hoặc béo nguyên nhân phổ biến nhất của suy dinh dưỡng thường bao gồmTình trạng mất an ninh lương thực, hoặc thiếu khả năng tiếp cận với nguồn thực phẩm đầy đủ và giá cả phải chăng tình trạng mất an ninh lương thực của một quốc gia có thể khiến người dân lâm vào tình trạng thiếu lương thực, dẫn đến nạn đói và làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng trầm vấn đề về tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng một số tình trạng gây kém hấp thụ, chẳng hạn như bệnh Crohn, bệnh celiac và sự phát triển quá mức của vi khuẩn trong ruột, có thể gây ra suy dinh dưỡngUống quá nhiều rượu Việc sử dụng nhiều rượu có thể khiến cho cơ thể không hấp thụ đủ được lượng protein, calo và vi chất dinh dưỡng cần loạn sức khỏe tâm thần Trầm cảm và các tình trạng sức khỏe tâm thần khác có thể làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng. Trong một cuộc nghiên cứu đã cho thấy, những người bị trầm cảm có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn khoảng 4% so với những người khỏe có khả năng lấy và chuẩn bị thực phẩm các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự gầy yếu, kém vận động và thiếu đi sức mạnh cơ bắp là những yếu tố nguy cơ dẫn đến suy dinh dưỡng. Những vấn đề này cũng góp phần làm giảm khả năng chuẩn bị thức ăn của một người. Việc sử dụng nhiều rượu có thể khiến cho cơ thể không hấp thụ đủ được lượng protein, calo và vi chất dinh dưỡng cần thiết 6. Những người có nguy cơ rủi ro cao bị suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến mọi người ở tất cả các nơi trên thế giới, nhưng một số đối tượng sau đây sẽ có nguy cơ cao hơn, bao gồmNhững người sống ở các nước đang phát triển hoặc các khu vực có khả năng tiếp cận thực phẩm bị hạn chế tình trạng thiếu dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng đặc biệt phổ biến ở Châu Phi cận Sahara và Nam người có nhu cầu chất dinh dưỡng tăng lên, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú Ở một số nước đang phát triển, có khoảng 24-31% bà mẹ mang thai và cho con bú bị suy dinh người sống trong cảnh nghèo đói hoặc có thu nhập thấp Tình trạng kinh tế xã hội thấp có liên quan mật thiết đến suy dinh lớn tuổi, đặc biệt là những người sống một mình hoặc bị khuyết tật Nghiên cứu đã cho thấy có tới 22% người lớn tuổi bị suy dinh dưỡng và hơn 45% có nguy cơ bị suy dinh người có các vấn đề ảnh hưởng đến sự hấp thụ chất dinh dưỡng Những người bị bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng có thể bị suy dinh dưỡng cao gấp bốn lần so với những người không có các tình trạng này. 7. Các biện pháp phòng ngừa và điều trị suy dinh dưỡng Để phòng ngừa và điều trị hiệu quả suy dinh dưỡng, chúng ta cần chú trọng đến việc giải quyết các nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn đề cứu đã cho thấy, các cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa suy dinh dưỡng sẽ bao gồm cung cấp các viên sắt, kẽm, i-ốt, thực phẩm bổ sung, đồng thời giáo dục dinh dưỡng cho những người có nguy cơ bị suy dinh ra, trẻ em và người lớn có nguy cơ bị suy dinh dưỡng quá mức nên lựa chọn các loại thực phẩm lành mạnh, kết hợp thực hiện thường xuyên các hoạt động thể chất để ngăn ngừa đáng kể tình trạng thừa cân và béo cạnh đó, bạn cũng có thể ngăn ngừa nguy cơ suy dinh dưỡng bằng cách ăn một chế độ ăn uống đầy đủ với nhiều loại thực phẩm khác nhau, bao gồm đủ carbs, protein, chất béo, vitamin, khoáng chất và khác, việc điều trị suy dinh dưỡng thường bao gồm các phương pháp tiếp cận cá nhân hóa hơn. Nếu bạn nghi ngờ rằng bạn hoặc người thân đang bị suy dinh dưỡng, hãy trao đổi vấn đề này với bác sĩ càng sớm càng chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể giúp bạn đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng thiếu dinh dưỡng, từ đó xác định được các biện pháp can thiệp phù hợp dành cho bạn, chẳng hạn như thay đổi chế độ dinh dưỡng bao gồm các chất bổ nay, Vinmec là một trong số ít các bệnh viện có đầy đủ các chuyên khoa về Nhi, có thể khám đa khoa kết hợp cùng bác sĩ chuyên khoa về dinh dưỡng giúp xây dựng thực đơn riêng cho bé, khám thần kinh, các vấn đề về tinh thần, phản xạ. Đặc biệt, Vinmec có thế mạnh về khám vận động với sự phối hợp của trung tâm điều trị phục hồi cho trẻ tự kỷ - bại có nhu cầu khám bệnh với các bác sĩ Nhi khoa giàu kinh nghiệm tại Vinmec, Khách hàng vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Nguồn tham khảo XEM THÊM Trẻ đến tuổi đi học vẫn thiếu cân, phải làm thế nào? Lo lắng vì trẻ 3 tuổi bị táo bón kéo dài Trẻ 8 tháng nặng 7kg có phải suy dinh dưỡng không? Dịch vụ từ Vinmec Thông thường hình ảnh định vị trong tâm trí chúng ta về suy dinh dưỡng ở trẻ là những thân hình gầy quắt, teo héo, thiếu cân nặng… Nhưng sự thật, suy dinh dưỡng trẻ em tồn tại nhiều cấp độ khác nhau. Đặc biệt suy dinh dưỡng nặng được biểu hiện ở 3 thể thể phù, thể teo đét và thể phối hợp. Trong đó thể phù Kwashiorkor thường ít khi được gia đình phát hiện vì trông bề ngoài, bé vẫn mập mạp, khỏe mạnh. Biểu hiện của suy dinh dưỡng thể phù Chúng ta cần nhớ rằng suy dinh dưỡng trẻ em bắt đầu từ biểu hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là Marasmus và Kwashiorkor – thể phù Khi mắc chứng suy dinh dưỡng thể phù, mặt bệnh nhân tròn trịa nhưng chân tay khẳng khiu, trương lực cơ yếu, rối loạn sắc tố da, thiếu máu, gan to và thoái hóa mỡ, phù, giảm đạm máu. Đầu tiên là những dấu hiệu phù mặt, mí mắt, chân tay… rồi dần tiến đến phù thũng toàn thân, tràn dịch màng bụng, màng tinh hoàn… Ngoài ra, tùy mức độ, thời gian và thời điểm xảy ra suy dinh dưỡng thể phù mà mắt, xương, gan, tim, ruột, tụy, não, răng, tóc… đều có thể bị ảnh hưởng. Ban đầu bệnh không có nhiều biểu hiện trầm trọng nhưng nguy hiểm do điều trị khó và tỷ lệ tử vong cao Nguyên nhân gây bệnh Do hoàn cảnh gia đình, một số phụ huynh không có điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ hoặc sợ chảy xệ ngực khi cho bé bú nên chỉ sử dụng sữa công thức, nước cháo pha sữa, bột dinh dưỡng… hoặc để bé kiêng khem quá mức khi mắc bệnh. Có thể là nguyên nhân bệnh lý Do trẻ mắc phải những chứng bệnh di truyền hoặc nhiễm khuẩn sơ sinh kết hợp với chế độ dinh dưỡng thiếu hợp lý khẩu phần ăn của bé thường không được cung cấp đủ chất đạm nhưng vẫn nhận đủ hoặc gần đủ năng lượng từ chất bột đường hay chất béo, sử dụng những loại sữa không phù hợp với thể trạng của bé. Phòng suy dinh dưỡng thể phù Để phòng suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ, cần chăm sóc trẻ từ trong bụng mẹ. Trong thời gian mang thai người mẹ cần ăn uống bồi dưỡng hơn bình thường đồng thời theo dõi tăng cân từng quý; khám thai định kỳ ít nhất 3 lần. Khi bé chào đời Nuôi con bằng sữa mẹ là cách tốt nhất để phòng ngừa suy dinh dưỡng ở trẻ em nói chung và suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ nhỏ nói riêng. Trẻ cần được bú mẹ cho đến 2 tuổi. Cho bé ăn bột khi đã đủ tuổi ăn dặm sau 6 tháng tuổi, không nên cho trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi dùng sữa bột nguyên kem vì loại sữa này dù nhiều protein nhưng dễ gây tổn thương niêm mạc ruột. Cẩn thận theo dõi, nếu có các biểu hiện của bệnh suy dinh dưỡng như trẻ biếng ăn, rối loạn tiêu hóa…cần đưa trẻ đi khám và thực hiện các quy trình điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ. Chế độ ăn dặm phải cân đối với đủ 4 nhóm thức ăn tinh bột, chất béo, chất đạm và rau quả tươi. Trong trường hợp mẹ không có sữa hoặc ít sữa thì cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành, tuyệt đối không dùng nước cháo đơn thuần để nuôi trẻ. Theo dõi cân nặng cho bé bằng cách mỗi tháng cân trẻ một lần, trẻ từ 2 - 5 tuổi thì 2 - 3 tháng cân một lần, để ý những dấu hiệu trên cơ thể bé, đặc biệt là khi bé tăng cân một cách bất thường. Khám sức khỏe định kỳ và tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng để cân đối lại chế độ ăn hợp lý cho bé. Bổ sung dưỡng chất từ nguồn bên ngoài Đối với trẻ nhỏ, bên cạnh sữa mẹ và chế độ ăn uống hợp lý thì nguồn dinh dưỡng từ sữa công thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển trí não và hấp thu dưỡng chất một cách tốt nhất. Vậy, nguồn dinh dưỡng nào sẽ phù hợp với trẻ mắc bệnh suy dinh dưỡng và giúp trẻ tăng cân khỏe mạnh, nâng cao sức đề kháng? Chuyên Gia Dinh Dưỡng - NutiFood Sáng 8/6, tại Hà Nội, Tập đoàn TH tổ chức Hội thảo quốc tế “Sản phẩm dinh dưỡng công thức từ sữa tươi - Dinh dưỡng vàng cho lứa tuổi vàng, giúp trẻ phát triển toàn diện” với sự tham dự của đông đảo đại biểu và chuyên gia, đại diện cho các tổ chức, cơ quan nghiên cứu dinh dưỡng uy tín trong nước và thế giới. Các báo cáo tham luận tại hội thảo mang tới cái nhìn toàn diện về dinh dưỡng vàng cho sự phát triển toàn diện của trẻ; chia sẻ kết quả nghiên cứu về thực trạng dinh dưỡng; các xu hướng dinh dưỡng, tầm quan trọng của dinh dưỡng công thức cho trẻ em tại các nước phát triển như Việt Nam. Đồng thời giúp nâng cao nhận thức về vai trò của dinh dưỡng đối với sự phát triển của trẻ trong độ tuổi 0 đến 12 tuổi, còn gọi là lứa tuổi vàng. Việt Nam đang đối mặt với ba vấn đề dinh dưỡng ở trẻ nhỏ, đó là suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng và thừa cân, béo phì. Theo kết quả điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2019-2020 do Viện dinh dưỡng Quốc gia triển khai cho thấy còn 19,6% số ở trẻ ở tuổi học đường bị suy dinh dưỡng thể thấp còi; ở trẻ em dưới 5 tuổi có 58% số trẻ bị thiếu kẽm, 19,6% số trẻ bị thiếu máu… Trong khi đó, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở lứa tuổi học đường tăng từ 8,5% năm 2010 lên 19% năm 2020, riêng ở khu vực thành thị lên tới 26,8%. Mặc dù chiều cao của thanh niên Việt Nam có xu hướng tăng lên, hiện đạt trung bình 168,1cm nam và 156,2cm nữ, song vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực và thấp hơn so chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Các chuyên gia dinh dưỡng báo cáo tại Hội thảo. PGS, TS Nguyễn Thị Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện dinh dưỡng quốc gia Bộ Y tế khẳng định, đầu tư cho dinh dưỡng trong những năm đầu đời giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, phòng ngừa nguy cơ mắc các bệnh mãn tính không lây và có tác động bền vững đến cả giai đoạn sau này khi trẻ trưởng thành. Việc bổ sung dinh dưỡng cho trẻ những năm đầu đời cần phải xem xét trên đặc điểm về xã hội, kinh tế, địa lý... của từng quốc gia, để từ đó nhằm cải thiện tình trạng thiếu vi chất cũng như giúp trẻ phát triển tối ưu nhất. Do vậy, cần ưu tiên các sản phẩm dinh dưỡng công thức được phát triển dựa trên đặc điểm thể trạng của trẻ em Việt Nam. PGS, TS Nguyễn Thị Lâm khẳng định, can thiệp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ trong các giai đoạn ngày đầu đời, giai đoạn tiền học đường 2-5 tuổi và giai đoạn học đường 6-12 tuổi, sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và trí não, dự phòng các bệnh mạn tính, khỏe mạnh trong tương lai. Ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, những thách thức về dinh dưỡng cho thấy cần can thiệp mạnh mẽ nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng, đặc biệt là ở trẻ em. Trong số các giải pháp tăng cường dinh dưỡng cho trẻ, thì sản phẩm dinh dưỡng công thức được xem là một lựa chọn can thiệp dinh dưỡng phù hợp. Nghiên cứu của Tổ chức Dinh dưỡng Đông Nam Á cho biết, bữa ăn hằng ngày của trẻ em Việt Nam thiếu đến 50% nhu cầu vi chất. Trong khi đó, khoa học đã chứng minh, khoảng 54% chiều cao tối đa của trẻ đã đạt được khi tròn 3 tuổi; từ 0 đến 12 tuổi chính là giai đoạn vàng quyết định sự phát triển tối đa tầm vóc, thể lực và trí tuệ của con người. Tại hội thảo, Tập đoàn TH cũng giới thiệu và ra mắt sản phẩm dinh dưỡng công thức từ sữa tươi - TH true FORMULA , đây là sản phẩm dinh dưỡng công thức từ sữa tươi đầu tiên tại Việt Nam; đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm dinh dưỡng công thức với mục đích ăn bổ sung cho trẻ. Anh hùng Lao động Thái Hương, nhà sáng lập, Chủ tịch Hội đồng chiến lược Tập đoàn TH chia sẻ, con người là chủ thể của xã hội, là nguồn lực quyết định sự phát triển đất nước. Một quốc gia chỉ vững mạnh khi con người được phát triển toàn diện cả thể lực và trí lực. Chúng ta phải chú ý đến từng mắt xích trong mọi giai đoạn sức khỏe của đời người, và giai đoạn đầu đời, giai đoạn lứa tuổi vàng là đặc biệt quan trọng.

suy dinh dưỡng thể phù